Thứ Năm, 26 tháng 9, 2013

Vẫn ma lanh những hành khúc bất hủ.

Năm 1947, khi lần trước hết được gặp Bác Hồ trên đất Bắc, nhạc sĩ Lưu Hữu Phước sáng tác “Lãnh tụ ca” có phần lời viết chung với thi sĩ Nguyễn Đình Thi

Vẫn rực rỡ những hành khúc bất hủ

Có nhẽ đời sau ngầm hiểu với nhau một cách đơn giản rằng, chính phép cộng giữa anh tài thiên bẩm và tinh thần yêu nước đã giúp Lưu Hữu Phước viết nên những hành khúc sôi nổi và hối thúc như “Lên đàng”, “Hội nghị Diên Hồng”, “Tiến về Sài Gòn”… Nhìn lại lịch trình sáng tạo miệt mài và tâm huyết của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước thật không khó để nhận ra một điều khích: trong hành trang mà cậu học trò 16 tuổi Lưu Hữu Phước rời Cần Thơ lên Sài Gòn để theo học Trường trung học Trương Vĩnh Ký đã có bản thảo ca khúc đầu tay “Non sông gấm vóc”.

Ngoài những công trình khoa học chuyên sâu về âm nhạc dân tộc, Lưu Hữu Phước còn có nhiều vở ca kịch giàu biểu cảm như “Tục lụy”, “Phá mưu bù nhìn” hoặc “Diệt sói lang”.

Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước   Nếu có dịp đặt chân về Ô Môn, chứng kiến sự bình yên của dằng dịt sông ngòi và sự hặm hụi chất phác của dân cày, thì bằng suy luận thông thường chắc chắn không ai lý giải được, tại sao cậu bé Lưu Hữu Phước ngày nào chỉ được cha dạy cho chơi đàn kìm bên rạch Bằng Lăng lại có thể tự mày mò học hỏi để theo đuổi và thành công ở loại thể hành khúc vốn chỉ quen thuộc với âm nhạc phương Tây.

Vẫn mạch cảm xúc ấy, sau khi ra Hà Nội học Đại học Y Dược, Lưu Hữu Phước tiếp có thêm các tác phẩm trứ danh như “Ải Chi Lăng”, “Hội nghị Diên Hồng”, “Hờn sông Gianh”, “Tiếng gọi thanh niên”, “Hồn tử sĩ”… Năm 1944, Lưu Hữu Phước tham dự trận mạc Việt Minh và quyết định từ giấc mơ thầy thuốc để trở lại miền Nam đương đầu.

Tượng đài âm nhạc Lưu Hữu Phước được vun đắp bởi những hành khúc bất hủ, nên ít người biết rằng Lưu Hữu Phước thuở hai mươi viết nhiều ca khúc trữ tình.

Âm nhạc trở thành thứ vũ khí sắc bén mà Lưu Hữu Phước đóng góp cho ngày giang san thống nhất. Năm 1946, Lưu Hữu Phước được điều động ra miền Bắc nhận nhiệm vụ mới. Bên cạnh vài bài tha thiết ngóng chờ đôi lứa như “Trên sông Hương” hay “Ai nhớ ai”, nhạc sĩ Lưu Hữu Phước đã gửi gắm một mối tình chia cách lỡ dở của mình qua bài hát “Hương giang dạ khúc”.

Có nhẽ đến một lúc nào đó, công chúng không chỉ suy tôn cố Giáo sư - Viện sĩ Lưu Hữu Phước bằng những hành khúc rộn rã hùng tráng, mà còn nhớ về nhạc sĩ Lưu Hữu Phước thời trai trẻ lãng mạn từng có phút chốc xao xuyến một mỹ nhân cố đô khi viết “Hương giang dạ khúc” với nhạc điệu say đắm: “Làn hương thu mờ trong bóng chiều, vờn run ánh ngà, nhẹ đưa đưa xa… Làn hương ơi, làn hương mờ xóa bóng ai yêu kiều trong mơ…"     Ngoa ngôn một tí, có thể khẳng định Lưu Hữu Phước là ông vua thể loại hành khúc ở Việt Nam.

Năm 1969, khi ở miền Nam nghe tin Bác Hồ mất, nhạc sĩ Lưu Hữu Phước sáng tác “Tình Bác sáng đời ta” có phần lời viết chung với thi sĩ Diệp Minh Tuyền. Dù đảm nhận nhiều vai trò quản lý bận rộn, nhưng âm nhạc của ông cũng vang lên với nhiều đề tài khác nhau như “Thiếu nhi thế giới liên hoan”, “Cả thế cục về ta” hay “dân cày vươn mình”.

Hành khúc của Lưu Hữu Phước không chỉ làm trụ cột cho âm nhạc nước nhà, mà còn có ảnh hưởng sâu rộng đến phong cách sáng tác của nhiều lớp nhạc sĩ kề cận. Và chẳng bao lâu sau, ngày Nam Kỳ khởi nghĩa 23-8-1945, Lưu Hữu Phước đã đứng chung với niềm vui của đồng bào mình bằng bài hát “Khúc khải hoàn”. Thế nhưng, hãy lưu ý, Lưu Hữu Phước không chỉ có hành khúc.

Sau 20 năm công tác ở Hà Nội, Lưu Hữu Phước quay về miền Nam giữ chức Bộ trưởng Văn hóa của Chính phủ cách mệnh lâm thời miền Nam Việt Nam. Kiên tâm ấy được ông diễn tả qua ba sáng tác ban bố ngày rời Hà Nội là “Xếp bút nghiên”, “Mau về Nam” và “Gieo ánh sáng”. Tức thị, sự nghiệm âm nhạc của Lưu Hữu Phước đã được tốp ngay từ khi còn ngồi ghế trường College nơi quê nhà.

Chính tuổi, Lưu Hữu Phước đã hứng khởi viết nhiều ca khúc kêu gọi tinh thần nguồn cội cho tuổi xanh mà vượt trội là “Bạch Đằng giang” được sáng tác vào năm 1940. Ở Sài Gòn những năm cuối thập niên 30 của thế kỷ 20, Lưu Hữu Phước đã kết giao tri kỷ với hai người bạn đồng môn Huỳnh Văn Tiểng và Mai Văn Bộ tạo thành nhóm Huỳnh Mai Lưu nức tiếng.

Hồ hết các nhà nghiên cứu đều có chung nhận định, 10 năm từ 1965 đến 1975 là khoảng thời gian Lưu Hữu Phước sáng tác nhiều nhất và hay nhất, mà công chúng có thể kể “Dưới cờ Đảng vẻ vang”, “Giờ hành động”, “Bài hát phóng thích quân”, “Hành khúc phóng thích”, “Xuống đường”… Đặc biệt, bằng tâm tình của một thiên tài lớn, Lưu Hữu Phước đã viết trước “giải phóng miền Nam” và “Tiếng về Sài Gòn” để hai ca khúc này theo chân những đoàn quân hẳm hở đi đến ngày 30/4 đại thắng! Về đề tài Bác Hồ, nhạc sĩ Lưu Hữu Phước có hai ca khúc viết cách nhau 22 năm nhưng đều có sức lan tỏa vào đời sống quần chúng.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét